Hiện nay, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển hệ thống đường sắt đô thị với quy mô rất lớn, điều này sẽ đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lên tới hàng triệu tỷ đồng. Do đó, bài toán quan trọng được đặt ra là cần phải kiểm soát tiến độ, chi phí và đưa công trình vào vận hành đúng kế hoạch thay vì chỉ tính bằng số lượng dự án được khởi công. Vấn đề này đã thu hút nhiều ý kiến và góc nhìn của các chuyên gia, trong đó nổi bật là những quan điểm của PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, quyền Viện trưởng Viện Phát triển chính sách và năng lực lãnh đạo ĐHQG-HCM. Ông cho rằng, tiến độ metro phụ thuộc vào 5 nhóm yếu tố chính bao gồm: chất lượng chuẩn bị dự án, giải phóng mặt bằng, nguồn vốn, năng lực chủ đầu tư và quản lý dự án, cơ chế phối hợp và ra quyết định.
Một vấn đề rất lớn của các dự án metro hiện nay là thời gian đầu tư kéo dài hơn so với mục tiêu. Quá trình triển khai đầu tư các tuyến như metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên và Nhổn - Ga (Hà Nội) cho thấy việc kéo dài thời gian đầu tư xây dựng đã làm gia tăng tổng mức đầu tư rất lớn. Do đó, để quá trình đầu tư xây dựng không bị kéo dài thời gian, yêu cầu quan trọng là mặt bằng phải đi trước công trường. Mặt khác, các dự án cũng cần xác định hành lang tuyến, vị trí ga, depot. Đồng thời, cần phải việc hoàn thành đo đạc, kiểm đếm, đưa ra các phương án tái định cư và kế hoạch di dời hạ tầng kỹ thuật trước khi triển khai xây lắp.
Bên cạnh những điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, một nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian thi công các dự án metro là sự hạn chế về năng lực điều phối. Do đó, PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình cho rằng, cần phải xây dựng một đầu mối đủ thẩm quyền điều phối toàn bộ chương trình. Đồng thời, cần phải kết hợp với bộ phận chuyên nghiệp để quản lý tiến độ (PMO) để theo dõi thống nhất về vốn, mặt bằng, hợp đồng và rủi ro. Do đó, nguyên tắc điều hành cần rõ ràng “một việc - một đầu mối - một thời hạn - một người chịu trách nhiệm cuối cùng”. Trong đó, các hạ tầng liên quan như điện, nước, viễn thông, đất đai,…cần phải đưa vào một “đường găng liên ngành” và theo dõi trên cùng hệ thống dữ liệu. Như vậy, lãnh đạo thành phố sẽ xác định được vấn đề bị chậm hoặc vướng ở đâu và đơn vị nào sẽ phải chịu trách nhiệm.
Về nguồn lực tài chính, cần xây dựng phương án tài chính dài hạn. Theo PGS.TS Tình, nguồn vốn cần phải kết hợp ngân sách với nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi, PPP, vốn tư nhân. Mặt khác, PGS.TS Tình cần chuyển từ tư duy chỉ sử dụng ngân sách để xây metro sang mô hình metro tạo giá trị đô thị. Theo đó, một phần giá trị gia tăng từ hệ thống metro đô thị cũng cần được tiếp tục đầu tư và xây dựng metro.
Như vậy, bên cạnh việc gỡ bỏ được các rào cản trên, để hệ thống đường sắt được phát triển tại Việt Nam các doanh nghiệp nội địa cũng cần phát triển năng lực về thiết bị, công nghệ, nhân lực và bảo trì đường sắt. Đồng thời, cũng cần phải chuẩn hóa tiêu chuẩn, công nghệ và quy trình quản lý để tạo nền tảng cho các tuyến tiếp theo. PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình kết luận, thước đo cuối cùng của các dự án metro là số công trình được hoàn thành đúng tiến độ, kiểm soát được chi phí, vận hành hiệu quả và tạo ra giá trị phát triển lâu dài cho đô thị thay vì chỉ tính bằng số dự án được khởi công.